Trong bối cảnh trong nước và quốc tế, cũng như trước những cơ hội và thách thức, trong thời gian tới, ngành dệt may Việt Nam sẽ phát triển theo hướng hình thành và phát triển chuỗi cung ứng trong nước nhằm đáp ứng quy tắc xuất xứ và tận dụng các FTA đã ký kết, qua đó góp phần tăng hàm lượng giá trị gia tăng trong nước, dần dần cải thiện năng suất lao động và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành dệt may.
Trong bối cảnh trong nước và quốc tế, cũng như trước những cơ hội và thách thức, trong thời gian tới, ngành dệt may Việt Nam sẽ phát triển theo hướng hình thành và phát triển chuỗi cung ứng trong nước nhằm đáp ứng quy tắc xuất xứ và tận dụng các FTA đã ký kết, qua đó góp phần tăng hàm lượng giá trị gia tăng trong nước, dần dần cải thiện năng suất lao động và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành dệt may. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp dệt may cũng sẽ tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ, đổi mới mô hình kinh doanh phù hợp với xu thế tiêu dùng mới.

Ông Vũ Đức Giang: Ngành dệt may Việt Nam trong năm 2023 toàn ngành đã xuất khẩu được 40 tỷ Đô la. Đây là một con số hết sức ấn tượng. Bảy tháng đầu năm 2024 toàn ngành đã xuất khẩu được trên 20 tỷ Đô la, tăng khoảng 5% so với cùng kỳ năm 2023. Có ba vấn đề lớn trong định hướng phát triển của ngành dệt may Việt Nam:
Thứ nhất, đó là cơ hội cho ngành dệt may Việt Nam. Các Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới đã tạo ra động lực về chiến lược, đa dạng cho thị trường dệt may trong nước. Trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra ba chiến lược trụ cột cho ngành, đó là: (1) đa dạng hóa thị trường, (2) đa dạng hóa đối tượng khách hàng, nhãn hàng, (3) đa dạng hóa sản xuất các mặt hàng. Đây là đi theo xu hướng phát triển toàn cầu. Năm 2023 và bẩy tháng đầu năm 2024 toàn ngành đã xuất khẩu vào 104 thị trường trên toàn thế giới. Đây là động lực và nỗ lực rất lớn của ngành dệt may Việt Nam.
Thứ hai, ngành dệt may Việt Nam đã chịu những áp lực thực tế, đó là phần cung thiếu hụt, trong bối cảnh và tình trạng gặp nhiều thách thức lớn bởi các Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới đặt ra cho ngành dệt may Việt Nam. Ví dụ như Hiệp định Thương mại tự do CPTPP yêu cầu Yarn Forward, hay Hiệp định EU EVFTA là phải sản xuất từ vải Việt Nam, đây cũng là một hạn chế mà Việt Nam đang phải nỗ lực để thúc đẩy khả năng kêu gọi đầu tư vào phần cung thiếu hụt. Bên cạnh đó, chiến lược xanh hóa của ngành dệt may cần phải thích ứng được đòi hỏi của thị trường các nước nhập khẩu từ châu Âu và Mỹ. Ttrong bối cảnh phải xanh hóa, phải tiết kiệm và phải sử dụng các sản phẩm tái chế, sản phẩm Sacal. Đó là những đòi hỏi mà chúng tôi đang phải tập trung để đưa ra các giải pháp trong chiến lược về đầu tư vào hạ tầng, đáp ứng đúng yêu cầu đòi hỏi các nước nhập khẩu.
Thứ ba, giải pháp về công nghệ và tự động hóa, xanh hóa. Ngành dệt may Việt Nam cũng đã và đang thúc đẩy khả năng để thích ứng được đòi hỏi về lao động. Do vậy ngành phải có một cái nguồn lực lao động có khả năng, có tay nghề tốt và đầu tư vào thiết bị công nghệ tự động hóa. Chúng ta phải có dây chuyền sản xuất, từ công nghiệp sợi dệt, nhuộm và may, đáp ứng yêu cầu đòi sự phát triển về năng suất lao động, về chất lượng và về thời gian giao hàng ngắn cho các nhãn hàng.
